Thứ Sáu, 31 tháng 10, 2014
![]() |
| Cách hành xử của Apple trong scandal iPhone 6 dễ bị bẻ cong cho thấy họ vẫn rất cực đoan trong việc thừa nhận sai lầm. |

Thứ Năm, 30 tháng 10, 2014
1. Sao lưu danh bạ





2. Sao lưu lịch sự kiện




3. Sao lưu ảnh sang thiết bị Android



4. Sao lưu thư viện âm nhạc


5. Sao lưu lịch sử duyệt web (bookmarks)





Thứ Tư, 29 tháng 10, 2014
![]() |
| Đồ chơi Halloween gây nguy hiểm cho trẻ em đã bị thu hồi. Ảnh minh họa |
Thứ Ba, 28 tháng 10, 2014
![]() |
| iPad Air 2 được cài sẵn thẻ SIM do Apple phát triển |
Chủ Nhật, 26 tháng 10, 2014
6 thao tác màn hình cảm ứng Microsoft Office 2013
Thứ Hai, 28 tháng 7, 2014
Chức năng tìm kiếm file mặc định trên Windows thường hoạt động thiếu hiệu quả và mất nhiều thời gian nhưng đôi khi không tìm được những file/thư mục mà người dùng mong muốn. neoSearch là phần mềm nhỏ gọn nhưng cho phép người dùng tìm kiếm dữ liệu trên Windows một cách siêu tốc.
Chức năng tìm kiếm dữ liệu (file, thư mục) mặc định trên Windows thường kém hiệu quả và mất nhiều thời gian nhưng đôi khi vẫn không tìm kiếm đúng và đầy đủ dữ liệu mà người dùng mong muốn.
neoSeach là phần mềm nhỏ gọn và miễn phí, với chức năng tìm kiếm dữ liệu trên Windows một cách nhanh chóng và chính xác. Người dùng chỉ việc gõ một chữ cái vào khung tìm kiếm, lập tức phần mềm sẽ liệt kê toàn bộ những file/thư mục có bắt đầu bằng chữ cái đó ở kết quả.
neoSearch hoạt động nhẹ nhàng và rất hiệu quả, có thể thay thế hoàn toàn cho chức năng tìm kiếm mặc định sẵn có trên Windows.
Download phần mềm miễn phí tại đây hoặc tại đây.
Trong bước đầu tiên của quá trình cài đặt, phần mềm sẽ hỏi người dùng có muốn download phiên bản mới nhất (phiên bản 2.50) hay không, nhấn “Yes” từ hộp thoại hiện ra và nhấn “Accept” ở hộp thoại sau đó để đồng ý và download phiên bản mới nhất.

Sau khi hoàn tất quá trình cài đặt, neoSearch sẽ hỏi người dùng có muốn phần mềm đánh dấu thông tin dữ liệu trên toàn hệ thống để phục vụ cho việc tìm kiếm được nhanh chóng hơn hay không. Nhấn “Yes” từ hộp thoại hiện ra, phần mềm sẽ bắt đầu quá trình đánh dấu dữ liệu trên hệ thống. Quá trình diễn ra nhanh hay chậm phụ thuộc vào dung lượng ổ cứng và số lượng dữ liệu hiện có trên ổ cứng.
Sau khi hoàn tất quá trình đánh dấu dữ liệu, bạn có thể sử dụng chức năng tìm kiếm ngay từ giao diện chính của phần mềm. neoSearch có giao diện chính rất đơn giản, người dùng chỉ cần điền tên file vào khung tìm kiếm, danh sách các file/thư mục có chứa tên cần tìm kiếm sẽ lập tức được liệt kê ngay trên giao diện chính của phần mềm.

Để biết rõ về vị trí chứa file (đường dẫn) của các kết quả tìm kiếm được, bạn nhấn nút Enter trên bàn phím hoặc kích vào nút tìm kiếm, một cửa sổ hiện ra chứa danh sách các kết quả tìm kiếm kèm theo thông tin chi tiết như dung lượng file, đường dẫn, ngày chỉnh sửa... dựa vào đây, bạn có thể xác định được file cần tìm kiếm một cách nhanh chóng và dễ dàng.

Khi nhấn vào một kết quả trong danh sách tìm kiếm, neoSearch sẽ cho phép người dùng mở trực tiếp file tìm kiếm được (nhấn Open) hoặc lưu file tìm kiếm được vào một vị trí khác (nhấn vào nút Save từ hộp thoại hiện ra). Hoặc bạn cũng có thể nhấn vào đường dẫn của file ở mục “Location Path” để mở thư mục có chứa file đang tìm kiếm.

Nhấn “Open” để mở file tìm kiếm được hoặc nhấn “Save” để lưu file vào một vị trí mới.
Mặc định khi hoạt động, biểu tượng của phần mềm neoSearch sẽ nằm bên dưới khay hệ thống. Bạn có thể kích vào biểu tượng trên khay hệ thống để gọi giao diện chính của phần mềm, hoặc sử dụng tổ hợp phím Alt+F3 để gọi giao diện chính của phần mềm (bạn cũng có thể sử dụng tổ hợp phím ‘cửa sổ’+S).
Ưu điểm lớn nhất của neoSearch là có tốc độ tìm kiếm nhanh chóng, có thể hiển thị kết quả tìm kiếm dựa vào chữ cái mà người dùng gõ vào khung tìm kiếm. Chẳng hạn bạn chỉ mới gõ chữ ‘a’ vào khung tìm kiếm, phần mềm sẽ tự động liệt kê những file/thư mục có bắt đầu bằng chữ ‘a’ ở kết quả.
Để sử dụng phần mềm được hiệu quả và chính xác hơn, người dùng nên thỉnh thoảng chạy chức năng “index” để phần mềm đánh dấu lại những dữ liệu mới được xuất hiện trên ổ cứng, từ đó giúp quá trình tìm kiếm được nhanh chóng và chính xác hơn, ngay cả với những dữ liệu mới được xuất hiện. Để thực hiện chức năng này, bạn chỉ việc nhấn vào nút “Index” có trên menu ở giao diện chính phần mềm.
Lưu ý: phần mềm cũng có chức năng tự động chạy chỉ mục (index), tuy nhiên điều này có thể ảnh hưởng đến hiệu suất của hệ thống và mất thời gian. Do vậy người dùng chỉ nên chạy Index bằng tay sau một vài ngày sử dụng máy tính hoặc vừa sao chép thêm dữ liệu mới từ bên ngoài vào máy tính.
Hướng dẫn gỡ bỏ phần mềm
Trong trường hợp không muốn tiếp tục sử dụng neoSearch, người dùng có thể thực hiện theo các bước sau để gỡ bỏ phần mềm ra khỏi Windows:
- Từ giao diện chính của phần mềm, chọn “Options” từ trên menu.
- Nhấn vào nút “Uninstall” từ hộp thoại Options hiện ra sau đó để gỡ bỏ phần mềm.

Vậy là các bạn đã gỡ bỏ xong!
Chúc các bạn có những trải nghiệm lý thú.
Bán hàng BKAV Pro qua điện thoại: 091 3387 246!
Thứ Tư, 26 tháng 3, 2014
Bài này sẽ tìm hiểu về các giao thức mạng thường dùng, khái niệm về các giao thức đó là gì và có chức năng như thế nào.
IP (Internet Protocol): là một giao thức hướng dữ liệu được sử dụng bởi các máy chủ nguồn và đích để truyền dữ liệu trong một liên mạng chuyển mạch gói. Tìm hiểu thêm về IPv4 và IPv6.
TCP (Transmission Control Protocol): là một trong các giao thức cốt lõi của bộ giao thức TCP/IP. Sử dụng TCP, các ứng dụng trên các máy chủ được nối mạng có thể tạo các “kết nối” với nhau, mà qua đó chúng có thể trao đổi dữ liệu hoặc các gói tin. Giao thức này đảm bảo chuyển giao dữ liệu tới nơi nhận một cách đáng tin cậy và đúng thứ tự. TCP còn phân biệt giữa dữ liệu của nhiều ứng dụng (chẳng hạn, dịch vụ Web và dịch vụ thư điện tử) đồng thời chạy trên cùng một máy chủ.

TCP/IP (TCP/IP protocol suite): là một bộ các giao thức truyền thông cài đặt chồng giao thức mà Internet và hầu hết các mạng máy tính thương mại đang chạy trên đó. Bộ giao thức này được đặt tên theo hai giao thức chính của nó là TCP (Giao thức Điều khiển Giao vận) và IP (Giao thức Liên mạng).
UDP (User Datagram Protocol): là một trong những giao thức cốt lõi của giao thức TCP/IP. Dùng UDP, chương trình trên mạng máy tính có thể gửi những dữ liệu ngắn được gọi là datagram tới máy khác. UDP không cung cấp sự tin cậy và thứ tự truyền nhận mà TCP làm; các gói dữ liệu có thể đến không đúng thứ tự hoặc bị mất mà không có thông báo. Tuy nhiên UDP nhanh và hiệu quả hơn đối với các mục tiêu như kích thước nhỏ và yêu cầu khắt khe về thời gian. Do bản chất không trạng thái của nó nên nó hữu dụng đối với việc trả lời các truy vấn nhỏ với số lượng lớn người yêu cầu.
HTTP (HyperText Transfer Protocol): là một trong năm giao thức chuẩn về mạng Internet, được dùng để liên hệ thông tin giữa Máy cung cấp dịch vụ (Web server) và Máy sử dụng dịch vụ (Web client) là giao thức Client/Server dùng cho World Wide Web-WWW, HTTP là một giao thức ứng dụng của bộ giao thức TCP/IP (các giao thức nền tảng cho Internet).
FTP (File Transfer Protocol): thường được dùng để trao đổi tập tin qua mạng lưới truyền thông dùng giao thức TCP/IP (chẳng hạn như Internet – mạng ngoại bộ – hoặc intranet – mạng nội bộ). Hoạt động của FTP cần có hai máy tính, một máy chủ và một máy khách). Máy chủ FTP, dùng chạy phần mềm cung cấp dịch vụ FTP, gọi là trình chủ, lắng nghe yêu cầu về dịch vụ của các máy tính khác trên mạng lưới. Máy khách chạy phần mềm FTP dành cho người sử dụng dịch vụ, gọi là trình khách, thì khởi đầu một liên kết với máy chủ. Một khi hai máy đã liên kết với nhau, máy khách có thể xử lý một số thao tác về tập tin, như tải tập tin lên máy chủ, tải tập tin từ máy chủ xuống máy của mình, đổi tên của tập tin, hoặc xóa tập tin ở máy chủ v.v. Vì giao thức FTP là một giao thức chuẩn công khai, cho nên bất cứ một công ty phần mềm nào, hay một lập trình viên nào cũng có thể viết trình chủ FTP hoặc trình khách FTP. Hầu như bất cứ một nền tảng hệ điều hành máy tính nào cũng hỗ trợ giao thức FTP. Điều này cho phép tất cả các máy tính kết nối với một mạng lưới có nền TCP/IP, xử lý tập tin trên một máy tính khác trên cùng một mạng lưới với mình, bất kể máy tính ấy dùng hệ điều hành nào (nếu các máy tính ấy đều cho phép sự truy cập của các máy tính khác, dùng giao thức FTP). Hiện nay trên thị trường có rất nhiều các trình khách và trình chủ FTP, và phần đông các trình ứng dụng này cho phép người dùng được lấy tự do, không mất tiền.
SMTP (Simple Mail Transfer Protocol): là một chuẩn truyền tải thư điện tử qua mạng Internet. SMTP được định nghĩa trong bản RFC 821 (STD 10) và được chỉnh lý bằng bản RFC 1123 (STD 3), chương 5. Giao thức hiện dùng được là ESMTP (extended SMTP – SMTP mở rộng), được định nghĩa trong bản RFC 2821.
POP3 (Post Office Protocol phiên bản 3): là một giao thức tầng ứng dụng, dùng để lấy thư điện tử từ server mail, thông qua kết nối TCP/IP. POP3 và IMAP là 2 chuẩn giao thức Internet thông dụng nhất dùng để lấy nhận email. Hầu như các máy tính hiện nay đều hỗ trợ cả 2 giao thức.
IMAP (Internet Message Access Protocol): là thế hệ mới của giao thức POP (Post Office Protocol).[1] Nói một cách đơn giản, IMAP đặt sự kiểm soát email trên mail server trong khi nhiệm vụ của POP là tải toàn bộ thông điệp email về client server yêu cầu. Cụ thể, IMAP cung cấp truy cập email theo ba chế độ khác nhau: offline (ngoại tuyến), online (trực tuyến) và disconnected (ngắt kết nối).
ICMP (Internetwork Control Message Protocol): là một giao thức hoạt động trên layer 2 – Internetwork trong mô hình TCP/IP hoặc layer 3 – Network trong mô hình OSI cho phép kiểm tra và xác định lỗi của Layer 3 Internetwork trong mô hình TCP/IP bằng cách định nghĩa ra các loại thông điệp có thể sử dụng để xác định xem mạng hiện tại có thể truyền được gói tin hay không.
DHCP (Dynamic Host Configuration Protocol): là một giao thức cấu hình tự động địa chỉ IP. Máy tính được cấu hình một cách tự động vì thế sẽ giảm việc can thiệp vào hệ thống mạng. Nó cung cấp một database trung tâm để theo dõi tất cả các máy tính trong hệ thống mạng. Mục đích quan trọng nhất là tránh trường hợp hai máy tính khác nhau lại có cùng địa chỉ IP.
Nếu không có DHCP, các máy có thể cấu hình IP thủ công Ngoài việc cung cấp địa chỉ IP, DHCP còn cung cấp thông tin cấu hình khác, cụ thể như DNS. Hiện nay DHCP có 2 version: cho IPv4 và IPv6.
SNMP (Simple Network Management Protocol): là một tập hợp các giao thức không chỉ cho phép kiểm tra nhằm đảm bảo các thiết bị mạng như router, switch hay server đang vận hành mà còn vận hành một cách tối ưu, ngoài ra SNMP còn cho phép quản lý các thiết bị mạng từ xa.
WAP (Wireless Application Protocol): là một tiêu chuẩn công nghệ cho các hệ thống truy nhập Internet từ các thiết bị di động như điện thoại di động, PDA. Mặc dù tiêu chuẩn này chưa được chuẩn hóa trên toàn cầu, nhưng những ứng dụng của giao thức này đã tác động rất lớn đến ngành công nghiệp di động và các lĩnh vực dịch vụ liên quan. WAP là giao thức truyền thông mang lại rất nhiều ứng dụng cho người sử dụng thiết bị đầu cuối di động như E-mail, web, mua bán trực tuyến, ngân hàng trực tuyến, thông tin chứng khoán.
RIP (Routing Information Protocol): là một giao thức định tuyến bên trong miền sử dụng thuật toán định tuyến distance-vector. RIP được dùng trên Internet và phổ biến trên môi trường NetWare như phuơng thức trao đổi thông tin định tuyến giữa các bộ định tuyến. Giao thức định tuyến chuẩn Internet OSPF (Open Shortest Path First) là một phiên bản kế thừa của RIP.
OSPF (Open Shortest Path First): là một giao thức định tuyến link – state điển hình. OSPF được mô tả trong nhiều chuẩn của IETF (Internet Engineering Task Force). Chuẩn mở ở đây có nghĩa là OSPF hoàn toàn mở với công cộng, không có tính độc quyền.
Nếu so sánh với RIPv1 và RIPv2 là một giao thức nội thì IGP tốt hơn vì khả năng mở rộng của nó. RIP chỉ giới hạn trong 15 hop, hội tụ chậm và đôi khi còn chọn đường có tốc độ chậm vì khi quyết định chọn đường nó không quan tâm đến các yếu quan trọng khác như băng thông chẳng hạn. OSPF khắc phục được các nhược điểm của RIP vì nó là một giao thức định tuyến mạnh, có khả năng mởi rộng, phù hợp với các hệ thống mạng hiện đại. OSPF có thể cấu hình đơn vùng để sử dụng cho các mạng nhỏ.
PPP (Point-to-Point Protocol): là một giao thức liên kết dữ liệu, thường được dùng để thiết lập một kết nối trực tiếp giữa 2 nút mạng. Nó có thể cung cấp kết nối xác thực, mã hóa việc truyền dữ liệu.
SCTP (Stream Control Transmission Protocol): là một giao thức truyền thông ở tầng giao vận (số cổng 132), có vai trò tương tự giống hai giao thức phổ biến đó là TCP và UDP. Giao thức này cung cấp một số tính năng dịch vụ giống hai giao thức TCP và UDP: đó là một thông điệp định hướng như UDP và đảm bảo tin cậy, trong chuỗi truyền tải các thông điệp với sự điều khiển tắc nghẽn giống TCP.
Nguồn Internet!
Bán hàng BKAV Pro qua điện thoại: 091 3387 246!
Thứ Năm, 19 tháng 12, 2013
Bài viết này hướng dẫn bạn đọc cách tạo một USB có khả năng Boot và chứa bộ cài đặt của Windows 7 và Windows 8.1 bằng cách sử dụng WinSetupFromUSB.
Các bạn có thể dùng công cụ hỗ trợ tạo USB cài đặt windows từ Micscosoft là Windows7-USB-DVD-tool để tạo bộ cài Windows 7, windows 8 từ file ISO. Tuy nhiên các bạn sẽ chỉ tạo được 1 bộ cài trên 1 USB, như vậy với USB dung lượng cao sẽ gây lãng phí.
Hôm nay tôi sẽ giới thiệu đến bạn đọc phần mềm WinSetupFromUSB, một công cụ nhỏ giúp người dùng có thể tạo một USB có khả năng Boot và chứa cài đặt nhiều hệ điều hành. Nói đơn giản hơn là với công cụ này, bạn có thể tạo ra 1 USB có chứa 02 hay nhiều bộ cài đặt hệ điều hành như Linux, Windows 8, Windows 8.1 hay Windows 7, tất cả đều tùy thuộc vào dung lượng lưu trữ của chiếc USB của bạn mà thôi.

Đây là hình ảnh minh họa sản phẩm từ WinSetupFromUSB
Bài viết này tôi sẽ hướng dẫn bạn đọc cách tạo một USB có khả năng Boot và chứa bộ cài đặt của Windows 7 và Windows 8.1 bằng cách sử dụng WinSetupFromUSB. Mời bạn tham khảo.
Các bước chuẩn bị
- Tập tin ISO cài đặt của Windows 7
- Tập tin ISO cài đặt của Windows 8.1
- Một USB có dung lượng trống khoảng hơn 08 GB và được Format ở định dạng NTFS
- Một máy tính đang chạy hệ điều hành Windows 7, 8 hoặc 8.1
Cách thực hiện
Trước tiên bạn hãy tải về và giải nén tập tin WinSetupFromUSB tại đây
Giải nén file vừa tải về:

Sau khi giải nén xong, bạn hãy truy cập vào thư mục vừa giải nén và chọn tập tin thực thi phù hợp với phiên bản Windows mình đang dùng để khởi động WinSetupFromUSB.

Giao diện WinSetupFromUSB sẽ xuất hiện, bây giờ bạn hãy điều hướng mục USB disk selection and format tools đến vị trí thiết bị USB đang kết nối đến máy tính. Sau đó đánh dấu vào tùy chọn Auto format it with FBinst và tiếp theo là NTFS. Lưu ý rằng nếu bạn đang thao tác trên một máy tính dựa trên UEFI, bạn cần phải chọn FAT32 thay vì NTFS.
Tiếp theo ở mục Add to USB disk, bạn hãy đánh dấu vào tùy chọn Windows Vista/7/8/Server 2008/2012 based ISO rồi sau đó điều hướng đến vị trí tập tin ISO của Windows 7 trên máy tính.
Nếu bạn gặp thông báo “If you need (U)EFI support for the 64-bit versions of Windows Vista SP1 or later, you must use FAT32 partition.” hãy đánh dấu sang lựa chọn FAT32 thay vì NTFS.

Sau khi đã lựa chọn xong, bạn hãy nhấn GO và sau đó là YES để bắt đầu công việc

Một thông báo Job done sẽ xuất hiện để báo công việc đã hoàn thành. Bạn hãy giữ nguyên vị trí của USB và đừng tắt WinSetupFromUSB. Tiếp tục bỏ đánh dấu ở tùy chọn Auto format with FBinst và đánh dấu tiếp vào dòng Windows Vista/7/8/Server 2008/2012 based ISO file, sau đó điều hướng đến tập tin ISO của Windows 8.1 và nhấn GO để tiếp tục thêm bộ cài đặt Windows 8.1 vào USB.

Thế là xong, khá đơn giản phải không? Chúc bạn thành công!
Nguồn: Sưu tầm internet.
Bán hàng BKAV Pro qua điện thoại: 091 3387 246!
Thứ Bảy, 30 tháng 11, 2013
Chắc nhiều người đã gặp phải vấn đề này.
- Hiện tượng: Sau lần sử dụng đầu bị gián đoạn do hoặc là cài lại Google Drive, hoặc là cài lại Windows; rồi đăng nhập vào Google Drive thì bị báo folder not empty, hoặc bằng cách khác dùng được folder nhưng nó sẽ tạo thành hai bản copy của cùng một file.
Khi đó mà có khoảng vài chục GB đã upload mà giờ nó Download xuống từ đầu thì chắc chết!
- Giải quyết:
Bước 1: Sao lưu lại Google folder, bước này quan trong!
Trước khi cài lại Google Drive/Windows, vào folder sau:
Windows 7, 8: %USERPROFILE%\AppData\Local\Google
Windows XP: %USERPROFILE%\Local Settings\Application Data\Google
(Copy đường dẫn này dán vào Windows Explorer và Enter).
Copy folder Drive lưu sang ổ khác, chỗ nào đó an toàn.
Tiện thể tạo Shortcut cho folder Google và lưu cái Shortcut này sang cùng chỗ lưu Drive.
Bước 2: Cài lại Windows, cài lại Google Drive.
Quan trọng: Không được mở Google Drive lên hay đăng nhập vào, mà mở Task Manager và End tiến trình Google Drive.
Nhấp đúp Shortcut lúc nãy đã tạo để mở folder Google ra. Xoá hoặc copy folder Drive có trong đó ra chỗ khác và xoá nó trong đó đi. Copy folder Drive của bước 1 vào.
Bước 3: Mở Google Drive lên, ta thấy nó báo lỗi gì đó, có dấu chấm than. Nhấp vào và đăng nhập vào tài khoản Google Drive.
Xong. Mọi thứ được báo đã Sync xong chỉ trong tích tắc, không phải ngồi vừa khóc vừa đợi nó Sync từ đầu nữa.
Folder Google Drive (nơi chứa dữ liệu) ta không phải làm gì với nó cả. Lần đầu sử dụng thì nên để nó ở ổ khác ổ C để tiện cho việc sử dụng sau này. Nếu làm như thế thì khi đăng nhập vào Google Drive, chọn Advanced Setup gì đó, và Browse chọn folder Google Drive ở ổ đó.
Bán hàng BKAV Pro qua điện thoại: 091 3387 246!

.jpg)










