Bài đăng mới

Thứ Sáu, 31 tháng 10, 2014

Apple: biết sai, sửa sai, không nhận sai

Thứ Sáu, 31 tháng 10, 2014 Được viết bởi Nguyễn Văn Phương · - 0 Comments

Apple không hoàn mĩ như người ta vẫn tưởng. Họ mắc rất nhiều sai lầm nhưng gần như chưa bao giờ họ thừa nhận điều đó.

“Biết sai, sửa sai, không nhận sai, đó là người có thể đứng trên người khác” câu nói nổi tiếng của nhân vật Tào Tháo trong truyện Tam Quốc xem ra cực kỳ chính xác đối với Apple - một hãng công nghệ nổi tiếng với sự bảo thủ, thậm chí cực đoan.

Mới đây, một người dùng iPhone bất ngờ phát hiện ra chiếc iPhone 6 Plus anh ta vừa mới mua có vẻ cứng và khác lạ so với sản phẩm cùng loại anh mua cho vợ khi model này mới ra mắt khoảng một tuần. Không những thế, chiếc iPhone này còn nặng hơn 21 gram so với chiếc anh đã mua cho vợ. Từ đó, đã xuất hiện thông tin về việc, Apple đã âm thầm sửa lỗi dễ bị bẻ cong của iPhone 6 Plus bằng cách sử dụng vật liệu cứng hơn và gia cố cho vị trí dễ bị bẻ cong của máy.

Trước đó, mặc dù nhận được những chỉ trích nặng nề của báo giới, người dùng về việc iPhone 6 Plus dễ bị bẻ cong, thay vì xin lỗi khách hàng, hứa sẽ tìm hiểu thì táo khuyết dửng dưng cho rằng, số lượng máy bị lỗi quá nhỏ, không đáng để hãng phải bận tâm. Thậm chí, hãng này còn dọa nghỉ chơi với báo chí nếu họ tiếp tục đào sâu thêm về vấn đề này.
Cách hành xử của Apple trong scandal iPhone 6 dễ bị bẻ cong cho thấy họ vẫn rất cực đoan trong việc thừa nhận sai lầm.

Sẽ không có gì quá ngạc nhiên khi trong một ngày đẹp trời, Unboxtherapy lại muốn thử bẻ cong một chiếc iPhone 6 Plus và bất ngờ phát hiện ra, chiếc máy họ muốn bẻ khi đó khó cong hơn nhiều so với chiếc trong clip họ đã làm cuối tháng 9, thu hút nhiều triệu lượt xem. Sau đó, đến lượt iFixit vào cuộc, mổ bụng iPhone 6 Plus và phát hiện ra một số linh kiện, vật liệu lạ chưa có trên những chiếc 6 Plus họ mổ bụng ngày máy mới bán ra.

Apple có truyền thống âm thầm sửa lỗi trên những sản phẩm của mình. Trước đây, cố CEO Steve Jobs từng khiến người dùng iPhone 4 không biết phải ứng xử ra sao khi đổ lỗi cho người dùng không biết cách cầm máy, khiến cho sản phẩm của họ bị mất sóng. Họ mua iPhone, gặp phải sản phẩm lỗi nhưng không nhận được bất cứ lời xin lỗi nào từ phía hãng, thậm chí còn bị chê là không biết cách sử dụng iPhone.

Tuy đổ lỗi cho người dùng nhưng táo khuyết lại tặng cho khách một loại vỏ case nhằm đảm bảo khả năng thu sóng tốt hơn. Cũng chỉ sau thời điểm đó ít lâu cho đến nay, không một khách hàng nào còn phàn nàn về việc iPhone 4 của họ bị mất sóng, đơn giản bởi Apple đã khắc phục hiện tượng này một cách bí mật, không để cho ai biết.


Apple bảo thủ đến mức, người ta tin rằng xin lỗi là từ không có trong từ điển của họ, đặc biệt dưới thời CEO Steve Jobs. Khi Tim Cook lên nắm quyền, Apple đã mềm mỏng đi nhiều. Bằng chứng là việc, đích thân vị CEO này đã từng lên tiếng xin lỗi người dùng vì phần mềm Apple Maps của họ quá tệ và khuyên người dùng chuyển sang Google Maps. Những tưởng, đó là sẽ tiền đề mở ra một thời kỳ mới cho Apple - ở đó, họ dân chủ và không còn quân phiệt. Tuy nhiên, sự cố iPhone 6 Plus vừa qua và những động thái gần đây cho thấy, Apple vẫn là chính họ. Có vẻ như, họ vẫn sẽ giữ thái độ bảo thủ một cách cực đoan bởi thứ văn hóa Steve Jobs gây dựng lên đã ngấm vào máu.

Steve Jobs nổi tiếng là một thiên tài. Ông này còn là một tín đồ của chủ nghĩa hoàn hảo. Ông không chấp nhận việc sản phẩm do mình làm ra bị mắc lỗi. Nói cách khác, ông cảm thấy bị xúc phạm nếu bất kỳ ai đó chỉ trích ông hoặc sản phẩm của Apple – thứ ông coi trọng hơn bất cứ gì trên đời.

Cách hành xử đó – thường xuất hiện ở những kẻ độc tài, nơi họ cho mình là số một, là kẻ đứng trên người khác. Tuy nhiên, Apple không mù quáng bởi họ vẫn lắng nghe người dùng, khắc phục những sai lầm. Trên thực tế, nếu không cầu thị, họ chắc chắn không thể tung ra những sản phẩm đem lại trải nghiệm tốt nhất cho người dùng như iPhone, iPad hay máy Mac.

Một nhân vật kiệt xuất như Steve Jobs đã biết cách truyền tình yêu, lòng tự hào về sản phẩm họ làm ra đến từng nhân viên Apple, tạo ra một thứ văn hóa cực đoan có chủ đích để ngay cả khi ông qua đời, Apple vẫn như một cỗ máy đã vào guồng, tiếp tục dòng chảy của nó, tạo ra những sản phẩm tốt nhất. Đến khi mắc sai lầm, họ lại tiếp tục “xù lông” trước búa rìu dư luận, sau đó âm thầm khắc phục thay vì tự thừa nhận sự yếu kém của bản thân.

Thành Duy

Thứ Năm, 30 tháng 10, 2014

Hướng dẫn chuyển dữ liệu từ iPhone sang Android

Thứ Năm, 30 tháng 10, 2014 Được viết bởi Nguyễn Văn Phương · - 0 Comments

Có thể nói, người dùng "lạ mà quen" khi chuyển đổi giữa hai hệ điều hành di động phổ biến nhất hiện nay. Lý do là bởi vì cách dùng trên hệ sinh thái mới tuy có khác biệt nhưng đối với dữ liệu, ta vẫn có thể sử dụng được những dữ liệu được chuyển từ iOS sang Android và ngược lại.



Giới hạn trong phạm vi bài viết sẽ là cách chuyển các dữ liệu từ iPhone sang thiết bị Android. Điều duy nhất bạn cần làm trước khi thực hiện các bước chuyển dữ liệu là tạo cho mình một tài khoản Google.

1. Sao lưu danh bạ

Dù dùng bất kỳ điện thoại nào, có lẽ dữ liệu quan trọng nhất cần sao lưu khi chuyển đổi chính là danh bạ. Ở các phiên bản trước của iTunes, dữ liệu này trên iPhone có thể dễ dàng được đồng bộ với tài khoản Google, song sự thuận tiện này đã bị Apple từ bỏ trong các phiên bản iTunes mới đây. Bởi vậy, chúng ta buộc phải dùng một cách phức tạp hơn, đó là sao lưu thông qua iCloud.

Bước 1: Đồng bạ danh bạ vào iCloud

Vào Cài đặt > iCloud và đăng nhập tài khoản iCloud của bạn. Kéo xuống "Danh bạ" và bật tính năng tự động đồng bộ danh bạ lên iCloud.


Bước 2: Xuất danh bạ dưới dạng tập tin vCard:

Sau khi mọi địa chỉ liên lạc đã được đồng bộ lên iCloud, bạn cần mở máy tính và truy cập vào đường dẫnhttps://www.icloud.com/, rồi đăng nhập bằng tài khoản iCloud của mình.

Nhấp vào mục "Danh bạ" và chọn các địa chỉ liên lạc mà bạn muốn sao lưu sang thiết bị Android.


Tiếp theo, nhấn vào nút Actions Menu (biểu tượng bánh răng cưa ở góc dưới bên trái) rồi lựa chọn "Xuất vCard" và tải về tập tin vCard trên máy tính.


Bước 3: Nhập khẩu tập tin vCard vào tài khoản Google:

Truy cập vào đường dẫn https://www.google.com/contacts/, lựa chọn "Nhập danh sách liên hệ" ở khung bên trái và chọn đường dẫn tới tệp vCard bạn vừa lưu trên máy tính.


Cuối cùng, bạn chỉ việc mở thiết bị Android và đồng bộ danh bạ trên tài khoản Google xuống là mọi quá trình sao lưu danh bạ đã được hoàn tất.


2. Sao lưu lịch sự kiện


Ở mục này, chúng ta vẫn tiếp tục dùng iCloud và tài khoản Google như một công cụ trung gian để chuyển dữ liệu giữa iOS và Android. Cụ thể, bạn cần làm theo các bước sau:

Bước 1: Đồng bộ lịch sự kiện vào iCloud

Vào Cài đặt > iCloud, đăng nhập và bật tính năng tự động đồng bộ trong "Lịch".


Bước 2: Xuất dữ liệu lịch sự kiện dưới dạng tập tin

Truy cập vào đường dẫn https://www.icloud.com/ và đăng nhập. Nhấn vào biểu tượng "Calendar" và chọn tính năng "Chia sẻ lịch" ở ngay bên cạnh tên của lịch sự kiện mà bạn muốn xuất dữ liệu. Khi Popup mới xuất hiện, tích vào "Lịch chung" và sao chép dòng URL xuất hiện bên dưới.


Dán URL này vào một tab mới trong trình duyệt web, thay đổi webcal:// thành http:// và nhấn phím Enter. Lúc này, tập tin có chứa dữ liệu lịch của bạn sẽ được tải về máy tính.


Bước 3: Nhập tâp tin vào tài khoản Google

Truy cập vào đường link http://www.google.com/calendar/, nhìn sang "Other Calendars" ở khung bên trái và nhấp vào mũi tên bên phải của nhãn này. Chọn "Import Calendar" và chỉ đường dẫn tới tệp dữ liệu lịch sự kiện bạn vừa lưu trên máy tính.


Cuối cùng, tương tự như mục (1), đồng bộ tài khoản Google với thiết bị Android để hoàn tất quá trình.

3. Sao lưu ảnh sang thiết bị Android

Sau danh bạ, sự kiện thì những bức ảnh và video đã ghi lại những khoảnh khắc đáng nhớ trên chiếc điện thoại cũ cũng là một trong những điều mà người dùng quan tâm và muốn chuyển sang chiếc điện thoại mới. Có rất nhiều cách để chuyển dữ liệu ảnh giữa 2 thiết bị, song phương pháp đơn giản nhất chính là kết nối cả 2 với cùng một chiếc máy tính (hay laptop).

Bước 1: Chép ảnh, video từ iPhone sang máy tính

Kết nối iPhone với máy vi tính thông qua cổng USB bằng cáp của máy (cáp Lightning hoặc cáp 30 chân với các iPhone đời cũ). Tiếp theo, vào "My Computer". Ở mục "Portable Devices", click phải chuột vào "iPhone"và chọn "Import Pictures And Videos" để máy tính quét toàn bộ hình ảnh và video có trong điện thoại.


Sau khi hoàn tất, nhấn vào chữ "Import" để sao chép toàn bộ dữ liệu quét được vào máy. Thường thì thư mục "My Pictures" sẽ được chọn làm thư mục chứa mặc định.


Bước 2: Chuyển dữ liệu từ máy tính sang thiết bị Android

Truy cập vào thư mục chứa ảnh và video mà bạn vừa sao lưu từ iPhone trên máy tính và "Copy" những dữ liệu bạn muốn sao lưu sang thiết bị Android.


Sau đó, kết nối điện thoại Android với máy tính qua cổng USB và truy nhập vào thư mục hình ảnh của máy (thường là thư mục DCIM), click chuột phải, chọn "Paste". Công đoạn này hoàn tất chính là lúc mọi bức ảnh và video yêu thích của bạn xuất hiện trên chiếc điện thoại mới.

4. Sao lưu thư viện âm nhạc

Để đồng bộ thư viện bài hát từ máy iOS sang các thiết bị sử dụng nền tảng hệ điều hành khác là một công đoạn vô cùng khó khăn. Bởi thông thường, khi bài hát được tải hoặc dùng iTunes để đưa vào iPhone hoặc iPad thì chúng đã được mã hóa theo quy tắc riêng để phù hợp với nền tảng hệ điều hành iOS (chứ không ở dạng nguyên bản như các hệ điều hành khác). Do đó, hiện vẫn chưa có cách tối ưu nhất sao cho đỡ "mất sức" khi cần sao lưu thư viện âm nhạc theo chiều ngược lại. Chúng ta chỉ có thể dùng cách "thủ công" với phần mềm CopyTrans như sau:

Bước 1: Đồng bộ thư viện âm nhạc từ iPhone sang máy tính

Tải và cài đặt phần mềm CopyTrans về máy tính. Kết nối iPhone với máy tính qua cáp và đợi CopyTrans nhận thiết bị.


Tiếp theo, chọn "Manual backup" (ở gần trên) và lựa chọn những bài hát bạn muốn đồng hộ. Ở mục "Back up to", nhấn vào "Folder" để chọn nơi bạn sẽ lưu dữ liệu nhạc đồng bộ trên máy tính và ấn "Start Backup".


Bước 2: Chuyển tệp chứa các bài hát sang thiết bị Android

Bạn chỉ việc kết nối máy Android với máy tính. Sau đó, sao chép thư mục bạn vừa lưu nhạc từ bước 1 vào thiết bị Android và đợi quá trình được hoàn tất.

5. Sao lưu lịch sử duyệt web (bookmarks)

Bookmarks giúp ta không tốn công ghi nhớ hay phải tìm kiếm và gõ lại từng địa chỉ, từng tài khoản trong suốt quá trình duyệt web, đem lại tiện lợi vô cùng lớn. Để đồng bộ bookmark giữa 2 thiết bị bạn có thể thực hiện theo hướng dẫn sau:

Bước 1: Đồng bộ bookmark từ Safari lên iCloud

Vào Cài đặt > iCloud. Đăng nhập tải khoản iCloud và bật tính năng đồng bộ dữ liệu trình duyệt Safari.


Bước 2: Đồng bộ bookmark từ iCloud sang Google Chorme (đã đăng nhập bằng tài khoản Google) trên máy tính

Tải phần mềm iCloud Control Panel trên máy tính, cài đặt và đăng nhập bằng tài khoản iCloud. Sau đó, đánh dấu vào ô "Bookmarks". Nhấn "Options", chọn "Google Chrome" và ấn "Apply".


Khi được hỏi lựa chọn kết hợp bookmarks, nhấn "Merge" để tiếp tục. Máy sẽ yêu cầu tải về các phần mở rộng iCloud Bookmarks cho Google Chrome, chọn "Download" để tải và cài đặt chúng.




Sau bước trên, lịch sử duyệt web của iPhone đã được đồng bộ với trình duyệt Chrome trên máy tính.

Bước 3: Đồng bộ bookmark sang thiết bị Android

Sang đến bước này, mọi quá trình gần như đã được hoàn tất. Giờ đây, bạn chỉ việc đăng nhập cùng tài khoản Google lên ứng dụng Google Chorme trên điện thoại Android. Chờ đợi quá trình đồng bộ kết thúc và hãy xem điều "kì diệu" xảy ra.


Theo Hoàng Anh, VnReview

Thứ Tư, 29 tháng 10, 2014

Đồ chơi Halloween khiến trẻ em bị bỏng

Thứ Tư, 29 tháng 10, 2014 Được viết bởi Nguyễn Văn Phương · - 0 Comments

8.600 đồ chơi Halloween xuất xứ Trung Quốc đã bị thu hồi do nguy cơ gây bỏng cho trẻ em khi sử dụng.

Theo thông tin từ trang Mlive, chuỗi siêu thị Meijer (Mỹ) đã thu hồi 8.600 đèn pin đồ chơi Halloween dành cho trẻ em được bán tại các cửa hàng bán lẻ của Midwest trong tháng 9 và tháng 10 vì đồ chơi có thể bị quá nóng dẫn đến nhựa bị tan chảy. Điều này đặt ra một nguy cơ bỏng nghiêm trọng cho người dùng, đặc biệt là trẻ em.

Đèn pin xuất xứ Trung Quốc này có giá 3 đô la (khoảng hơn 60.000 VNĐ) và mang tên gọi Signature Designs Halloween. Nó là đèn pin với phần nắp chứa ống kính đặc biệt để các thông điệp và hình ảnh được chiếu lên một bức tường hoặc các bề mặt khác.

Đồ chơi Halloween gây nguy hiểm cho trẻ em đã bị thu hồi. Ảnh minh họa

Tay cầm đèn pin dài khoảng khoảng 18cm và chứa hai pin cỡ C. Nắp có màu cam cao khoảng khoảng 8cm và đường kính khoảng 6cm. Phần nắp đi kèm với ba ống kính dùng để chiếu hình.

Meijer đã nhận được một báo cáo về việc một đèn pin quá nóng và nhiệt độ khiến nhựa bị chảy ra. Theo báo cáo từ Ủy ban an toàn sản phẩm tiêu dùng Mỹ (CPSC) cũng có chấn thương được báo cáo nên sản phẩm cần được thu hồi hỏi thị trường. 

Loại đồ chơi nguy hiểm cho trẻ em cần được thu hồi toàn bộ. Người tiêu dùng cũng được yêu cầu ngừng sử dụng đèn pin đồ chơi Halloween, tháo pin ra và trả lại hàng để được hoàn tiền đầy đủ.

VietBao.vn (Theo VietQ)

Thứ Ba, 28 tháng 10, 2014

Nhà mạng khắp thế giới nghĩ cách “vùi dập” Apple SIM

Thứ Ba, 28 tháng 10, 2014 Được viết bởi Nguyễn Văn Phương · - 0 Comments

Dù Apple SIM mang lại nhiều lợi ích cho người dùng, các hãng viễn thông tỏ ra không hợp tác và muốn kiểm soát trực tiếp thẻ SIM của mình.
iPad Air 2 được cài sẵn thẻ SIM do Apple phát triển
iPad Air 2 và iPad mini 3 của Apple được cài sẵn loại SIM mới để dùng được với bất kỳ nhà mạng nào trên thế giới. Điều đó có nghĩa người dùng không cần phải tháo, lắp SIM khi thay đổi nhà cung cấp dịch vụ. Thay vào đó, họ chỉ cần lựa chọn nhà mạng mới thông qua cài đặt trên thiết bị. Về lý thuyết, nó giải phóng người dùng di động khỏi các thủ tục và chọn dịch vụ thông qua giá, chất lượng, tín hiệu mạng…

Tuy nhiên, mọi chuyện không đơn giản như những gì Apple muốn. Tại Mỹ, Verizon đứng ngoài còn AT&T sẽ khóa Apple SIM với mạng của mình, đồng nghĩa với việc khách hàng AT&T phải lắp SIM mới nếu chuyển sang dịch vụ đối thủ.

Tại châu Âu, nơi có thể đặt mua iPad Air 2 và iPad mini 3 từ cửa hàng trực tuyến của Apple, chỉ có một trong số hơn chục nhà mạng – EE – đăng ký cung cấp dịch vụ qua SIM Apple. Phát ngôn viên Apple cho biết Apple SIM chỉ mới áp dụng tại Mỹ và Anh. Cô không có thông tin thêm về quan hệ hợp tác sau này với các hãng viễn thông.

Tại Anh, Vodafone, nhà mạng lớn thứ hai thế giới sau China Mobile, sẽ bán iPad Air 2 với SIM riêng và gói dữ liệu riêng. Người phát ngôn Vodafone nói công ty đang liên kết với cả ngành và hiệp hội nhà mạng GSMA phát triển “chuẩn toàn cầu” cho SIM tương hợp (interoperable SIM).

Tại Pháp, Orange dẫn nguy cơ an ninh làm lý do không đăng ký với Apple trong thời điểm hiện tại. “SIM là tài sản chiến lược đối với Orange và chúng tôi xem nó như sự mở rộng của mạng lưới. Chúng tôi tin rằng thẻ SIM, kết hợp cả yếu tố phần cứng và phần mềm, là cách tốt nhất để bảo đảm an toàn cho việc liên lạc của khách hàng”, phát ngôn viên nhà mạng chia sẻ. Orange cũng cho biết sẽ quan sát phản ứng của thị trường và có kết luận trong thời gian tới.

Tại Đức, Deutsche Telekom không đăng ký với Apple và không bình luận gì, trong khi chi nhánh Telefonica Đức chưa đưa ra quyết định cuối cùng. “Chúng tôi sẽ phân tích Apple SIM có phù hợp với chiến lược sản phẩm và giá hay không trong vài tuần nữa”, người phát ngôn của hãng nói. Nhà mang cũng muốn duy trì kết nối trực tiếp với khách hàng và chịu trác nhiệm vê cấu hình của thẻ SIM.

Thẻ SIM mới của Apple một lần nữa làm dấy lên tranh luận về sự phân chia sức mạnh giữa nhà mạng và nhà sản xuất. Việc phát triển thẻ SIM để dễ dàng chuyển đổi giữa các mạng có tác động tiêu cực đến hãng viễn thông song lại có lợi cho người tiêu dùng, vì thế không dễ gì Apple SIM được chấp nhận.


Du Lam (Theo WSJ)
Việt Báo (Theo_Ictnews)

Chủ Nhật, 26 tháng 10, 2014

Microsoft Office 2013: 6 thao tác màn hình cảm ứng

Chủ Nhật, 26 tháng 10, 2014 Được viết bởi Nguyễn Văn Phương · - 0 Comments

Thiết bị cảm ứng ngày nay đã trở nên khá phổ thông, nhưng vẫn có những thao tác trên màn hình cảm ứng dành cho bộ công cụ Microsoft Office 2013 mà không phải ai cũng biết hết…

Nhận lệnh điều khiển qua màn hình cảm ứng là một trong những bước “tiến hóa” lớn nhất của Microsoft Office 2013 so với những phiên bản tiền nhiệm, bên cạnh hệ thống lưu trữ đám mây và những tính năng mang tính đột phá. Word 2013, Excel 2013 hay PowerPoint 2013 đều nằm trong bộ Office 2013 nhưng tất nhiên vẫn có những thao tác cảm ứng của riêng mỗi phần mềm.

Một số thao tác có thể đã quá quen thuộc, ví dụ như kéo thả, vuốt, lướt, zoom… Nhưng ở đề ICTnews sẽ chỉ điểm qua những thao tác mà không phải ai cũng biết khi lên đời Office 2013…

6 thao tác màn hình cảm ứng Microsoft Office 2013


Dùng bàn phím ảo Touch Keyboard

Những công cụ trong Office 2013 đều hỗ trợ tốt bàn phím ảo Touch Keyboard của Win 8. Vì vậy, bạn có thể dùng bàn phím ảo cho Office 2013 bất kỳ khi nào bằng cách bấm nút Touch Keyboard phía dưới thanh Taskbar.



6 thao tác màn hình cảm ứng Microsoft Office 2013: Bạn có thể dùng bàn phím ảo cho Office 2013 bất kỳ khi nào bằng cách bấm nút Touch Keyboard phía dưới thanh Taskbar.

Lựa chọn nhiều hình khối

Với màn hình thường, để chọn nhiều hình khối một lúc bạn phải giữ phím Ctrl. Với màn hình cảm ứng, bạn còn có thêm một cách nữa là nhấn giữ hình khối đầu tiên và nhấn tiếp các hình khối tiếp theo.



6 thao tác màn hình cảm ứng Microsoft Office 2013: Với màn hình cảm ứng, bạn chọn nhiều hình khối một lúc bằng cách nhấn giữ hình khối đầu tiên và nhấn tiếp các hình khối tiếp theo.

Định dạng chữ

+ Bước 1: Bạn lựa chọn một đoạn chữ bằng cách nhấn vào một điểm trong văn bản và điều chỉnh tay nắm điểm bắt đầu và kêt thúc. Thao tác này đã khá quen thuộc với người dùng thiết bị cảm ứng.



6 thao tác màn hình cảm ứng Microsoft Office 2013: Bạn lựa chọn một khối chữ bằng cách nhấn vào một điểm trong văn bản và điều chỉnh tay nắm điểm bắt đầu và kêt thúc.

+ Bước 2: Nhấn thêm một lần nữa vào đoạn chữ đã chọn, một bảng điều chỉnh định dạng chữ sẽ xuất hiện để bạn tha hồ tùy chỉnh.



6 thao tác màn hình cảm ứng Microsoft Office 2013: Nhấn thêm một lần nữa vào đoạn chữ đã chọn, một bảng điều chỉnh định dạng chữ sẽ xuất hiện để bạn tha hồ tùy chỉnh (khung đỏ).

Dùng Auto Fill (dành riêng cho Excel 2013)

Auto Fill là tính năng điền tự động theo quy luật của các phiên bản Excel. Với Excel 2013, vì hỗ trợ màn hình cảm ứng nên Auto Fill có thể được thực hiện như sau:

+ Bước 1: Lựa chọn một ô mong muốn rồi bấm biểu tượng Auto Fill.



6 thao tác màn hình cảm ứng Microsoft Office 2013: Lựa chọn một ô mong muốn rồi bấm biểu tượng Auto Fill (khoanh đỏ).

+ Bước 2: Khi biểu tượng Auto Fill đã xuất hiện ở góc dưới bên phải khung lựa chọn, hãy kéo biểu tượng đó xuống cho đến hết đoạn cần điền tự động.



6 thao tác màn hình cảm ứng Microsoft Office 2013: Khi biểu tượng Auto Fill đã xuất hiện ở góc dưới bên phải khung lựa chọn, hãy kéo biểu tượng đó xuống cho đến hết đoạn cần điền tự động.

Hiển thị thanh điều khiển trình chiếu (PowerPoint 2013)

Với PowerPoint 2013, khi đang bật trình chiếu toàn màn hình, sẽ có một thanh công cụ điều khiển nằm ẩn đi ở phía dưới. Để hiển thị thanh công cụ này, bạn có một cách đơn giản là gõ lên màn hình.



6 thao tác màn hình cảm ứng Microsoft Office 2013: Với PowerPoint 2013, khi đang bật trình chiếu toàn màn hình, sẽ có một thanh công cụ điều khiển nằm ẩn đi (khung đỏ). Để hiển thị thanh công cụ này, bạn có một cách đơn giản là gõ lên màn hình.

Nhảy slide tùy thích (PowerPoint 2013)

Vẫn nói đến khi đang bật trình chiếu toàn mình với PowerPoint 2013, bạn có thể khép 2 ngón tay vào nhau trên màn hình (giống như thao tác zoom ra tận cùng) để xem danh sách tất cả các slide và tùy chọn chuyển sang slide nào mình cần.



6 thao tác màn hình cảm ứng Microsoft Office 2013: Khi đang bật trình chiếu toàn mình với PowerPoint 2013, bạn có thể khép 2 ngón tay vào nhau trên màn hình để xem danh sách tất cả các slide và tùy chọn chuyển sang slide nào mình cần.


Anh Hào
Việt Báo (Theo_Ictnews)

Thứ Hai, 28 tháng 7, 2014

Tuyệt chiêu tìm kiếm dữ liệu siêu tốc trên Windows.

Thứ Hai, 28 tháng 7, 2014 Được viết bởi Nguyễn Văn Phương · - 0 Comments

Chức năng tìm kiếm file mặc định trên Windows thường hoạt động thiếu hiệu quả và mất nhiều thời gian nhưng đôi khi không tìm được những file/thư mục mà người dùng mong muốn. neoSearch là phần mềm nhỏ gọn nhưng cho phép người dùng tìm kiếm dữ liệu trên Windows một cách siêu tốc.

Chức năng tìm kiếm dữ liệu (file, thư mục) mặc định trên Windows thường kém hiệu quả và mất nhiều thời gian nhưng đôi khi vẫn không tìm kiếm đúng và đầy đủ dữ liệu mà người dùng mong muốn.

neoSeach là phần mềm nhỏ gọn và miễn phí, với chức năng tìm kiếm dữ liệu trên Windows một cách nhanh chóng và chính xác. Người dùng chỉ việc gõ một chữ cái vào khung tìm kiếm, lập tức phần mềm sẽ liệt kê toàn bộ những file/thư mục có bắt đầu bằng chữ cái đó ở kết quả.

neoSearch hoạt động nhẹ nhàng và rất hiệu quả, có thể thay thế hoàn toàn cho chức năng tìm kiếm mặc định sẵn có trên Windows.

Download phần mềm miễn phí tại đây hoặc tại đây.

Trong bước đầu tiên của quá trình cài đặt, phần mềm sẽ hỏi người dùng có muốn download phiên bản mới nhất (phiên bản 2.50) hay không, nhấn “Yes” từ hộp thoại hiện ra và nhấn “Accept” ở hộp thoại sau đó để đồng ý và download phiên bản mới nhất.

Tuyệt chiêu tìm kiếm dữ liệu siêu tốc trên Windows

Sau khi hoàn tất quá trình cài đặt, neoSearch sẽ hỏi người dùng có muốn phần mềm đánh dấu thông tin dữ liệu trên toàn hệ thống để phục vụ cho việc tìm kiếm được nhanh chóng hơn hay không. Nhấn “Yes” từ hộp thoại hiện ra, phần mềm sẽ bắt đầu quá trình đánh dấu dữ liệu trên hệ thống. Quá trình diễn ra nhanh hay chậm phụ thuộc vào dung lượng ổ cứng và số lượng dữ liệu hiện có trên ổ cứng.

Sau khi hoàn tất quá trình đánh dấu dữ liệu, bạn có thể sử dụng chức năng tìm kiếm ngay từ giao diện chính của phần mềm. neoSearch có giao diện chính rất đơn giản, người dùng chỉ cần điền tên file vào khung tìm kiếm, danh sách các file/thư mục có chứa tên cần tìm kiếm sẽ lập tức được liệt kê ngay trên giao diện chính của phần mềm.

Tuyệt chiêu tìm kiếm dữ liệu siêu tốc trên Windows

Để biết rõ về vị trí chứa file (đường dẫn) của các kết quả  tìm kiếm được, bạn nhấn nút Enter trên bàn phím hoặc kích vào nút tìm kiếm, một cửa sổ hiện ra chứa danh sách các kết quả tìm kiếm kèm theo thông tin chi tiết như dung lượng file, đường dẫn, ngày chỉnh sửa... dựa vào đây, bạn có thể xác định được file cần tìm kiếm một cách nhanh chóng và dễ dàng.

Tuyệt chiêu tìm kiếm dữ liệu siêu tốc trên Windows

Khi nhấn vào một kết quả trong danh sách tìm kiếm, neoSearch sẽ cho phép người dùng mở trực tiếp file tìm kiếm được (nhấn Open) hoặc lưu file tìm kiếm được vào một vị trí khác (nhấn vào nút Save từ hộp thoại hiện ra). Hoặc bạn cũng có thể nhấn vào đường dẫn của file ở mục “Location Path” để mở thư mục có chứa file đang tìm kiếm.

Nhấn “Open” để mở file tìm kiếm được hoặc nhấn “Save” để lưu file vào một vị trí mới

Nhấn “Open” để mở file tìm kiếm được hoặc nhấn “Save” để lưu file vào một vị trí mới.

Mặc định khi hoạt động, biểu tượng của phần mềm neoSearch sẽ nằm bên dưới khay hệ thống. Bạn có thể kích vào biểu tượng trên khay hệ thống để gọi giao diện chính của phần mềm, hoặc sử dụng tổ hợp phím Alt+F3 để gọi giao diện chính của phần mềm (bạn cũng có thể sử dụng tổ hợp phím ‘cửa sổ’+S).
Ưu điểm lớn nhất của neoSearch là có tốc độ tìm kiếm nhanh chóng, có thể hiển thị kết quả tìm kiếm dựa vào chữ cái mà người dùng gõ vào khung tìm kiếm. Chẳng hạn bạn chỉ mới gõ chữ ‘a’ vào khung tìm kiếm, phần mềm sẽ tự động liệt kê những file/thư mục có bắt đầu bằng chữ ‘a’ ở kết quả.
Để sử dụng phần mềm được hiệu quả và chính xác hơn, người dùng nên thỉnh thoảng chạy chức năng “index” để phần mềm đánh dấu lại những dữ liệu mới được xuất hiện trên ổ cứng, từ đó giúp quá trình tìm kiếm được nhanh chóng và chính xác hơn, ngay cả với những dữ liệu mới được xuất hiện. Để thực hiện chức năng này, bạn chỉ việc nhấn vào nút “Index” có trên menu ở giao diện chính phần mềm.

Lưu ý: phần mềm cũng có chức năng tự động chạy chỉ mục (index), tuy nhiên điều này có thể ảnh hưởng đến hiệu suất của hệ thống và mất thời gian. Do vậy người dùng chỉ nên chạy Index bằng tay sau một vài ngày sử dụng máy tính hoặc vừa sao chép thêm dữ liệu mới từ bên ngoài vào máy tính.

Hướng dẫn gỡ bỏ phần mềm
Trong trường hợp không muốn tiếp tục sử dụng neoSearch, người dùng có thể thực hiện theo các bước sau để gỡ bỏ phần mềm ra khỏi Windows:
- Từ giao diện chính của phần mềm, chọn “Options” từ trên menu.
- Nhấn vào nút “Uninstall” từ hộp thoại Options hiện ra sau đó để gỡ bỏ phần mềm.

Bây giờ, bạn đã hoàn tất việc gỡ bỏ neoSearch ra khỏi máy tính của mình.

Vậy là các bạn đã gỡ bỏ xong!

Chúc các bạn có những trải nghiệm lý thú.

Bán hàng BKAV Pro qua điện thoại: 091 3387 246!

Thứ Tư, 26 tháng 3, 2014

Phân biệt những giao thức mạng máy tính.

Thứ Tư, 26 tháng 3, 2014 Được viết bởi Nguyễn Văn Phương · - 0 Comments

Bài này sẽ tìm hiểu về các giao thức mạng thường dùng, khái niệm về các giao thức đó là gì và có chức năng như thế nào.

IP (Internet Protocol): là một giao thức hướng dữ liệu được sử dụng bởi các máy chủ nguồn và đích để truyền dữ liệu trong một liên mạng chuyển mạch gói. Tìm hiểu thêm về IPv4 và IPv6.

TCP (Transmission Control Protocol): là một trong các giao thức cốt lõi của bộ giao thức TCP/IP. Sử dụng TCP, các ứng dụng trên các máy chủ được nối mạng có thể tạo các “kết nối” với nhau, mà qua đó chúng có thể trao đổi dữ liệu hoặc các gói tin. Giao thức này đảm bảo chuyển giao dữ liệu tới nơi nhận một cách đáng tin cậy và đúng thứ tự. TCP còn phân biệt giữa dữ liệu của nhiều ứng dụng (chẳng hạn, dịch vụ Web và dịch vụ thư điện tử) đồng thời chạy trên cùng một máy chủ.

Bộ giao thức TCP/IP

TCP/IP (TCP/IP protocol suite): là một bộ các giao thức truyền thông cài đặt chồng giao thức mà Internet và hầu hết các mạng máy tính thương mại đang chạy trên đó. Bộ giao thức này được đặt tên theo hai giao thức chính của nó là TCP (Giao thức Điều khiển Giao vận) và IP (Giao thức Liên mạng).

UDP (User Datagram Protocol): là một trong những giao thức cốt lõi của giao thức TCP/IP. Dùng UDP, chương trình trên mạng máy tính có thể gửi những dữ liệu ngắn được gọi là datagram tới máy khác. UDP không cung cấp sự tin cậy và thứ tự truyền nhận mà TCP làm; các gói dữ liệu có thể đến không đúng thứ tự hoặc bị mất mà không có thông báo. Tuy nhiên UDP nhanh và hiệu quả hơn đối với các mục tiêu như kích thước nhỏ và yêu cầu khắt khe về thời gian. Do bản chất không trạng thái của nó nên nó hữu dụng đối với việc trả lời các truy vấn nhỏ với số lượng lớn người yêu cầu.

HTTP (HyperText Transfer Protocol): là một trong năm giao thức chuẩn về mạng Internet, được dùng để liên hệ thông tin giữa Máy cung cấp dịch vụ (Web server) và Máy sử dụng dịch vụ (Web client) là giao thức Client/Server dùng cho World Wide Web-WWW, HTTP là một giao thức ứng dụng của bộ giao thức TCP/IP (các giao thức nền tảng cho Internet).

FTP (File Transfer Protocol): thường được dùng để trao đổi tập tin qua mạng lưới truyền thông dùng giao thức TCP/IP (chẳng hạn như Internet – mạng ngoại bộ – hoặc intranet – mạng nội bộ). Hoạt động của FTP cần có hai máy tính, một máy chủ và một máy khách). Máy chủ FTP, dùng chạy phần mềm cung cấp dịch vụ FTP, gọi là trình chủ, lắng nghe yêu cầu về dịch vụ của các máy tính khác trên mạng lưới. Máy khách chạy phần mềm FTP dành cho người sử dụng dịch vụ, gọi là trình khách, thì khởi đầu một liên kết với máy chủ. Một khi hai máy đã liên kết với nhau, máy khách có thể xử lý một số thao tác về tập tin, như tải tập tin lên máy chủ, tải tập tin từ máy chủ xuống máy của mình, đổi tên của tập tin, hoặc xóa tập tin ở máy chủ v.v. Vì giao thức FTP là một giao thức chuẩn công khai, cho nên bất cứ một công ty phần mềm nào, hay một lập trình viên nào cũng có thể viết trình chủ FTP hoặc trình khách FTP. Hầu như bất cứ một nền tảng hệ điều hành máy tính nào cũng hỗ trợ giao thức FTP. Điều này cho phép tất cả các máy tính kết nối với một mạng lưới có nền TCP/IP, xử lý tập tin trên một máy tính khác trên cùng một mạng lưới với mình, bất kể máy tính ấy dùng hệ điều hành nào (nếu các máy tính ấy đều cho phép sự truy cập của các máy tính khác, dùng giao thức FTP). Hiện nay trên thị trường có rất nhiều các trình khách và trình chủ FTP, và phần đông các trình ứng dụng này cho phép người dùng được lấy tự do, không mất tiền.

SMTP (Simple Mail Transfer Protocol): là một chuẩn truyền tải thư điện tử qua mạng Internet. SMTP được định nghĩa trong bản RFC 821 (STD 10) và được chỉnh lý bằng bản RFC 1123 (STD 3), chương 5. Giao thức hiện dùng được là ESMTP (extended SMTP – SMTP mở rộng), được định nghĩa trong bản RFC 2821.

POP3 (Post Office Protocol phiên bản 3): là một giao thức tầng ứng dụng, dùng để lấy thư điện tử từ server mail, thông qua kết nối TCP/IP. POP3 và IMAP là 2 chuẩn giao thức Internet thông dụng nhất dùng để lấy nhận email. Hầu như các máy tính hiện nay đều hỗ trợ cả 2 giao thức.

IMAP (Internet Message Access Protocol): là thế hệ mới của giao thức POP (Post Office Protocol).[1] Nói một cách đơn giản, IMAP đặt sự kiểm soát email trên mail server trong khi nhiệm vụ của POP là tải toàn bộ thông điệp email về client server yêu cầu. Cụ thể, IMAP cung cấp truy cập email theo ba chế độ khác nhau: offline (ngoại tuyến), online (trực tuyến) và disconnected (ngắt kết nối).

ICMP (Internetwork Control Message Protocol): là một giao thức hoạt động trên layer 2 – Internetwork trong mô hình TCP/IP hoặc layer 3 – Network trong mô hình OSI cho phép kiểm tra và xác định lỗi của Layer 3 Internetwork trong mô hình TCP/IP bằng cách định nghĩa ra các loại thông điệp có thể sử dụng để xác định xem mạng hiện tại có thể truyền được gói tin hay không.

DHCP (Dynamic Host Configuration Protocol): là một giao thức cấu hình tự động địa chỉ IP. Máy tính được cấu hình một cách tự động vì thế sẽ giảm việc can thiệp vào hệ thống mạng. Nó cung cấp một database trung tâm để theo dõi tất cả các máy tính trong hệ thống mạng. Mục đích quan trọng nhất là tránh trường hợp hai máy tính khác nhau lại có cùng địa chỉ IP.

Nếu không có DHCP, các máy có thể cấu hình IP thủ công Ngoài việc cung cấp địa chỉ IP, DHCP còn cung cấp thông tin cấu hình khác, cụ thể như DNS. Hiện nay DHCP có 2 version: cho IPv4 và IPv6.

SNMP (Simple Network Management Protocol): là một tập hợp các giao thức không chỉ cho phép kiểm tra nhằm đảm bảo các thiết bị mạng như router, switch hay server đang vận hành mà còn vận hành một cách tối ưu, ngoài ra SNMP còn cho phép quản lý các thiết bị mạng từ xa.

WAP (Wireless Application Protocol): là một tiêu chuẩn công nghệ cho các hệ thống truy nhập Internet từ các thiết bị di động như điện thoại di động, PDA. Mặc dù tiêu chuẩn này chưa được chuẩn hóa trên toàn cầu, nhưng những ứng dụng của giao thức này đã tác động rất lớn đến ngành công nghiệp di động và các lĩnh vực dịch vụ liên quan. WAP là giao thức truyền thông mang lại rất nhiều ứng dụng cho người sử dụng thiết bị đầu cuối di động như E-mail, web, mua bán trực tuyến, ngân hàng trực tuyến, thông tin chứng khoán.

RIP (Routing Information Protocol): là một giao thức định tuyến bên trong miền sử dụng thuật toán định tuyến distance-vector. RIP được dùng trên Internet và phổ biến trên môi trường NetWare như phuơng thức trao đổi thông tin định tuyến giữa các bộ định tuyến. Giao thức định tuyến chuẩn Internet OSPF (Open Shortest Path First) là một phiên bản kế thừa của RIP.

OSPF (Open Shortest Path First): là một giao thức định tuyến link – state điển hình. OSPF được mô tả trong nhiều chuẩn của IETF (Internet Engineering Task Force). Chuẩn mở ở đây có nghĩa là OSPF hoàn toàn mở với công cộng, không có tính độc quyền.

Nếu so sánh với RIPv1 và RIPv2 là một giao thức nội thì IGP tốt hơn vì khả năng mở rộng của nó. RIP chỉ giới hạn trong 15 hop, hội tụ chậm và đôi khi còn chọn đường có tốc độ chậm vì khi quyết định chọn đường nó không quan tâm đến các yếu quan trọng khác như băng thông chẳng hạn. OSPF khắc phục được các nhược điểm của RIP vì nó là một giao thức định tuyến mạnh, có khả năng mởi rộng, phù hợp với các hệ thống mạng hiện đại. OSPF có thể cấu hình đơn vùng để sử dụng cho các mạng nhỏ.

PPP (Point-to-Point Protocol): là một giao thức liên kết dữ liệu, thường được dùng để thiết lập một kết nối trực tiếp giữa 2 nút mạng. Nó có thể cung cấp kết nối xác thực, mã hóa việc truyền dữ liệu.

SCTP (Stream Control Transmission Protocol): là một giao thức truyền thông ở tầng giao vận (số cổng 132), có vai trò tương tự giống hai giao thức phổ biến đó là TCP và UDP. Giao thức này cung cấp một số tính năng dịch vụ giống hai giao thức TCP và UDP: đó là một thông điệp định hướng như UDP và đảm bảo tin cậy, trong chuỗi truyền tải các thông điệp với sự điều khiển tắc nghẽn giống TCP.

Nguồn Internet!

Bán hàng BKAV Pro qua điện thoại: 091 3387 246!

Thứ Năm, 19 tháng 12, 2013

Hướng dẫn tạo USB chứa nhiều bộ cài đặt hệ điều hành.

Thứ Năm, 19 tháng 12, 2013 Được viết bởi Nguyễn Văn Phương · - 0 Comments

Bài viết này hướng dẫn bạn đọc cách tạo một USB có khả năng Boot và chứa bộ cài đặt của Windows 7 và Windows 8.1 bằng cách sử dụng WinSetupFromUSB.

Các bạn có thể dùng công cụ hỗ trợ tạo USB cài đặt windows từ Micscosoft là Windows7-USB-DVD-tool để tạo bộ cài Windows 7, windows 8 từ file ISO. Tuy nhiên các bạn sẽ chỉ tạo được 1 bộ cài trên 1 USB, như vậy với USB dung lượng cao sẽ gây lãng phí.

Hôm nay tôi sẽ giới thiệu đến bạn đọc phần mềm WinSetupFromUSB, một công cụ nhỏ giúp người dùng có thể tạo một USB có khả năng Boot và chứa cài đặt nhiều hệ điều hành. Nói đơn giản hơn là với công cụ này, bạn có thể tạo ra 1 USB có chứa 02 hay nhiều bộ cài đặt hệ điều hành như Linux, Windows 8, Windows 8.1 hay Windows 7, tất cả đều tùy thuộc vào dung lượng lưu trữ của chiếc USB của bạn mà thôi.

Hướng dẫn tạo USB chứa nhiều bộ cài đặt hệ điều hành

Đây là hình ảnh minh họa sản phẩm từ WinSetupFromUSB

Bài viết này tôi sẽ hướng dẫn bạn đọc cách tạo một USB có khả năng Boot và chứa bộ cài đặt của Windows 7 và Windows 8.1 bằng cách sử dụng WinSetupFromUSB. Mời bạn tham khảo.

Các bước chuẩn bị

- Tập tin ISO cài đặt của Windows 7

- Tập tin ISO cài đặt của Windows 8.1

- Một USB có dung lượng trống khoảng hơn 08 GB và được Format ở định dạng NTFS

- Một máy tính đang chạy hệ điều hành Windows 7, 8 hoặc 8.1

Cách thực hiện

Trước tiên bạn hãy tải về và giải nén tập tin WinSetupFromUSB tại đây

Giải nén file vừa tải về:

Hướng dẫn tạo USB chứa nhiều bộ cài đặt hệ điều hành

Sau khi giải nén xong, bạn hãy truy cập vào thư mục vừa giải nén và chọn tập tin thực thi phù hợp với phiên bản Windows mình đang dùng để khởi động WinSetupFromUSB.

Hướng dẫn tạo USB chứa nhiều bộ cài đặt hệ điều hành

Giao diện WinSetupFromUSB sẽ xuất hiện, bây giờ bạn hãy điều hướng mục USB disk selection and format tools đến vị trí thiết bị USB đang kết nối đến máy tính. Sau đó đánh dấu vào tùy chọn Auto format it with FBinst và tiếp theo là NTFS. Lưu ý rằng nếu bạn đang thao tác trên một máy tính dựa trên UEFI, bạn cần phải chọn FAT32 thay vì NTFS.

image

Tiếp theo ở mục Add to USB disk, bạn hãy đánh dấu vào tùy chọn Windows Vista/7/8/Server 2008/2012 based ISO rồi sau đó điều hướng đến vị trí tập tin ISO của Windows 7 trên máy tính.

image

Nếu bạn gặp thông báo “If you need (U)EFI support for the 64-bit versions of Windows Vista SP1 or later, you must use FAT32 partition.” hãy đánh dấu sang lựa chọn FAT32 thay vì NTFS.

Hướng dẫn tạo USB chứa nhiều bộ cài đặt hệ điều hành

Sau khi đã lựa chọn xong, bạn hãy nhấn GO và sau đó là YES để bắt đầu công việc

Hướng dẫn tạo USB chứa nhiều bộ cài đặt hệ điều hành

Một thông báo Job done sẽ xuất hiện để báo công việc đã hoàn thành. Bạn hãy giữ nguyên vị trí của USB và đừng tắt WinSetupFromUSB. Tiếp tục bỏ đánh dấu ở tùy chọn Auto format with FBinst và đánh dấu tiếp vào dòng Windows Vista/7/8/Server 2008/2012 based ISO file, sau đó điều hướng đến tập tin ISO của Windows 8.1 và nhấn GO để tiếp tục thêm bộ cài đặt Windows 8.1 vào USB.

Hướng dẫn tạo USB chứa nhiều bộ cài đặt hệ điều hành

Thế là xong, khá đơn giản phải không? Chúc bạn thành công!

Nguồn: Sưu tầm internet.

Bán hàng BKAV Pro qua điện thoại: 091 3387 246!

Thứ Bảy, 30 tháng 11, 2013

Giải quyết việc Google Drive không cho dùng folder cũ khi cài lại Windows

Thứ Bảy, 30 tháng 11, 2013 Được viết bởi Nguyễn Văn Phương · - 0 Comments

Chắc nhiều người đã gặp phải vấn đề này.

- Hiện tượng: Sau lần sử dụng đầu bị gián đoạn do hoặc là cài lại Google Drive, hoặc là cài lại Windows; rồi đăng nhập vào Google Drive thì bị báo folder not empty, hoặc bằng cách khác dùng được folder nhưng nó sẽ tạo thành hai bản copy của cùng một file.

Khi đó mà có khoảng vài chục GB đã upload mà giờ nó Download xuống từ đầu thì chắc chết!

- Giải quyết:

Bước 1: Sao lưu lại Google folder, bước này quan trong!

Trước khi cài lại Google Drive/Windows, vào folder sau:

Windows 7, 8: %USERPROFILE%\AppData\Local\Google

Windows XP: %USERPROFILE%\Local Settings\Application Data\Google

(Copy đường dẫn này dán vào Windows Explorer và Enter).

Copy folder Drive lưu sang ổ khác, chỗ nào đó an toàn.

Tiện thể tạo Shortcut cho folder Google và lưu cái Shortcut này sang cùng chỗ lưu Drive.

Bước 2: Cài lại Windows, cài lại Google Drive.

Quan trọng: Không được mở Google Drive lên hay đăng nhập vào, mà mở Task Manager và End tiến trình Google Drive.

Nhấp đúp Shortcut lúc nãy đã tạo để mở folder Google ra. Xoá hoặc copy folder Drive có trong đó ra chỗ khác và xoá nó trong đó đi. Copy folder Drive của bước 1 vào.

Bước 3: Mở Google Drive lên, ta thấy nó báo lỗi gì đó, có dấu chấm than. Nhấp vào và đăng nhập vào tài khoản Google Drive.

Xong. Mọi thứ được báo đã Sync xong chỉ trong tích tắc, không phải ngồi vừa khóc vừa đợi nó Sync từ đầu nữa.

Folder Google Drive (nơi chứa dữ liệu) ta không phải làm gì với nó cả. Lần đầu sử dụng thì nên để nó ở ổ khác ổ C để tiện cho việc sử dụng sau này. Nếu làm như thế thì khi đăng nhập vào Google Drive, chọn Advanced Setup gì đó, và Browse chọn folder Google Drive ở ổ đó.

Bán hàng BKAV Pro qua điện thoại: 091 3387 246!

Đắng Ký

Nhấn chọ đăng ký để nhận thin! Cảm ơn

© 2013 THÔNG TIN SỐ 24H. All rights reserved.
Template Thông Tin Số 24h